khuyến mãi lazada

Di ảnh liệt sĩ

Liệt sĩ: Nguyễn Bá Học
Ngày sinh: 1940
Quê quán: xã Thượng Cát - huyện Từ Liêm - thành ...
Đơn vị: Sư đoàn 9 (công trường 9), miền Đông Nam Bộ, F55, Đồng Xoài. D4.
Hy sinh: Tây Ninh

Huyền thoại về chiếc còi đồng và ngôi mộ liệt sỹ "vô danh"

(7/1/2009 3:45:21 PM)

HAI NGƯỜI PHÁO THỦ ĐỒNG HƯƠNG

Quê họ cùng huyện Diễn Châu nhưng ở hai xã cách nhau hơn chục cây số. Họ cùng nhập ngũ một ngày (11-4-1968), rồi cùng vào chiến trường một đợt và được phiên chế cùng một khẩu đội súng cối 82 ly thuộc đại đội hỏa lực của Trung Đoàn 27 - TĐ Triệu Hải anh hùng. Nguyễn Dương là pháo thủ số 1, Hoàng Quang Vinh là pháo thủ số 2. Họ cùng dự đủ 6 trận đánh trong đội hình của Trung Đoàn từ đầu chiến dịch cho đến lúc "lìa" nhau - Không ai ngờ ngày 29 tháng 11 năm 1968 là ngày "định mệnh" của đôi bạn pháo thủ đồng hương, đó là ngày diễn ra trận chiến đấu không cân sức giữa đại đội súng cối của họ với tiểu đoàn lính "Trâu điên" Mỹ tại đồi "O1"- Cam Lộ (Quảng Trị).

Ông Dương nhớ lại: Trận đánh ấy không khác chi "Trứng chọi đá" vì đơn vị chúng tôi chỉ còn hơn hai chục tay súng chọi với cả tiểu đoàn Mỹ được chi viện hỏa lực tối đa. Ngay đợt phản kích đầu tiên, đại đội trưởng của chúng tôi đã hy sinh, Vinh lúc đó là đại đội phó chỉ huy những chiến sỹ còn lại cầm cự chờ trời tối để thoát khỏi vòng vây của địch. Nhưng trước lúc trời tối thì Vinh cũng bị trọng thương và tắt thở khi trận đánh tạm thời lắng xuống. Trước đó, biết mình không thể qua khỏi, Vinh nắm chặt lấy tay tôi đặt lên ngực áo nơi anh vẫn cất giữ chiếc còi đồng mang theo từ ngày nhập ngũ. Tôi linh cảm Vinh đang muốn nói điều gì đó và bất giác tôi nhớ lại đã có lần Vinh nói với tôi như đùa: "Dương này, khi mình có mệnh hệ chi, cậu nhớ để chiếc còi đồng này đi theo mình nhé"! Tôi còn nhớ đã có lần Vinh kể rằng chiếc còi đồng ấy có từ thời anh làm liên đội trưởng thiếu niên; Đến khi làm bí thư đoàn xã, chiếc còi đồng lại được Vinh dùng làm trọng tài cho các trận đấu bóng chuyền giữa các chi đoàn. Ngày đơn vị đang huấn luyện ngoài Bắc, Những trận đấu bóng chuyền của chúng tôi cũng không bao giờ vắng tiếng còi của Vinh... Tôi đã khóc trong lúc dùng miếng vải nhựa gói chiếc còi đồng bỏ vào ngực áo của người đồng đội. Chôn cất Vinh và những anh em đã hy sinh xong, chúng tôi lợi dụng địa hình và đêm tối rút khỏi vòng vây của địch nhưng không may lại rơi vào ổ phục kích của tụi thám báo Mỹ. Tôi bị thương gãy xương bả vai nhưng vẫn cố ôm chiếc nòng súng cối bám theo đồng đội. Bọn thám báo ném lựu đạn cay, tôi ngất đi... khi tỉnh dậy đã thấy mình bị trói chặt nằm trên sàn trực thăng "cá lẹp" của Mỹ. Tôi bị địch đưa về Huế, vào Đà nẵng rồi sau đó đưa về giam tại Tổng y viện cộng hoà Sài Gòn. Tháng 4 / 1969 tôi bị chuyển đi biệt giam ở Phú Quốc.

...Sau hiệp định Paris, tôi nằm trong số tù binh được trao trả sau cùng vào đợt tháng 4 / 1973. Tháng 12 năm đó, sau khi được an dưỡng ở Quảng ninh, tôi được trở về gia đình. Cả làng Phượng Lịch kéo đến nhà tôi để thăm "ma" ông Dương. Tôi ví như người chết sống lại vì địa phương đã làm lễ truy điệu cho tôi hồi tháng 3 / 1969. Sau này ông Đoàn Sáu, chính uỷ trung đoàn Triệu Hải kể lại với tôi rằng: "sau khi xác minh không phải cậu đào ngũ, không có dấu hiệu cậu bị bắt vì không thấy trên địa bàn tác chiến của Trung đoàn bị lộ bí mật do bị khai báo nên đơn vị đã quyết định báo tử cậu về cho địa phương".

Ông Dương dừng lại ngẫm nghĩ như để sắp xếp lại các sự kiện rồi kể tiếp: Về nhà chỉ được một thời gian ngắn, vết thương cũ tái phát và tôi lâm chứng bệnh hiểm nghèo: liên tục lên cơn động kinh, mất trí nhớ; đi hết bệnh viện này sang bệnh viện khác cũng không khỏi. Rồi một lần nằm điều trị ở nhà thương Diễn Châu, tôi hỏi thăm một bệnh nhân quê Diễn Thịnh mới biết liệt sỹ Hoàng Quang Vinh đến ngày đó vẫn chưa tìm được phần mộ. Ký ức về người pháo thủ đồng hương dũng cảm, người đồng đội thân thiết hiện về dồn dập trong tôi - Như có phép lạ, tôi nhớ lại như in khuôn mặt hiền từ của Vinh và như thấy anh đang cười để lộ chiếc răng vàng trông rất duyên. Tôi lại như nghe văng vẳng tiếng chiếc còi đồng vang lên trong các trận đấu bóng chuyền khi Vinh làm trọng tài- Chiếc còi đồng mà tôi đã gói vào túi ngực người đồng đội có chiếc răng vàng đã nằm lại trên đồi "O1" Cam Lộ năm xưa... "Phải đi tìm lại mộ của Vinh" - Tôi thề với linh hồn bạn tôi như vậy và như có một sức mạnh thần diệu nào đó đã giúp tôi dần dà bình phục sức khoẻ.

TRẢ LẠI TÊN CHO ANH

...Thời kỳ ấy người con trai cả của Vinh là Hoàng Quang đã tốt nghiệp Học viện Hải Quân, sau một thời gian hoạt động trong Quân Đội chuyển thành một doanh nhân thành đạt ở Nha Trang. Nhận được tin báo của tôi, Quang lập tức từ Nha Trang ra đón tôi đi ngay vào Quảng Trị để tìm mộ cha. Đó là một ngày cuối tháng 7 năm 1999- Hơn ba mươi năm sau mới quay lại chiến trường cũ, tôi vẫn khẳng định với Quang là nhớ rất kỹ địa điểm chôn cất cha cậu; và như có sự phù hộ của linh hồn người chết, chúng tôi không mấy khó khăn tìm đúng vị trí chôn cất liệt sỹ tại khu vực "yên ngựa" đồi O1- Cam Lộ. Nhưng không may, khi đến vị trí xác định mộ của 3 liệt sỹ được tôi trực tiếp chôn cất hồi đó thì mộ chỉ còn dấu tích đã quy tập. Chúng tôi được chính quyền địa phương cho biết 3 ngôi mộ ấy đã được đưa về nghĩa trang huyện cam Lộ. Người trực tiếp quy tập đã ghi lại chi tiết đặc điểm của từng bộ hài cốt đúng như ký ức tôi ghi nhớ: ngôi mộ nằm bên phải là của người đại đội trưởng; ngôi mộ bên trái là của cô y tá du kích Cam lộ cùng hy sinh khi đi biệt phái cho đơn vị tôi hồi đó; còn ngôi mộ nằm giữa đã tìm thấy một chiếc còi đồng, và một chiếc răng vàng (kỷ vật của người đồng đội mà tôi không thể quên) đó chính là phần mộ của Hoàng Quang Vinh. Nhưng khi chúng tôi tới nghĩa trang cam lộ thì ngôi mộ "vô danh" được đánh số "27" quy tập từ đồi O1 theo khẳng định của tôi là mộ của Hoàng Quang Vinh đã có một gia đình từ Hà Nội vào nhận và đã gắn bia khắc tên liệt sỹ: "Nguyễn Khuyến". Tôi như người mắc tội lớn, còn Quang thì không biết nói gì, cả hai chú cháu đã khóc bên bia mộ liệt sỹ "Nguyễn Khuyến"!... Nhưng rồi như có một sự linh diệu mách bảo, Hoàng Quang một mực tin ngôi mộ liệt sỹ "Nguyễn Khuyến" là của cha cậu. Tôi thì đã đành, tôi tin vào trí nhớ và linh cảm của mình và động viên Quang nên tìm gặp người thân của liệt sỹ Nguyễn Khuyến ở Hà Nội để xác minh thêm. Bẵng đi một thời gian dài không có liên lạc với Quang, rồi thật bất ngờ- ngày 13 tháng 4 vừa rồi, tôi nhận được tin về xã Diễn Thịnh để dự lễ rước hài cốt liệt sỹ Hoàng Quang Vinh về nghĩa trang quê nhà!...

Ông Dương ngừng kể, trầm ngâm nhìn ra phía cửa, đôi mắt ông như mờ đi. Giọng ông trầm xuống như nói với chính mình: "Vậy là hành trình của chiếc còi đồng và chủ nhân của nó đã về tới đích"!

Tôi đã từng biết đôi điều về Quang, người con trai của liệt sỹ Hoàng Quang Vinh qua báo chí khi nói về người doanh nhân trẻ tuổi này. Về chuyện tấm bia mộ của liệt sỹ "Nguyễn Khuyến" ở nghĩa trang Cam Lộ, Quang kể với tôi: " Cháu tin vào trí nhớ của chú Dương, tin vào linh cảm của cháu nên đã mấy lần ra tận Hà Nội đề nghị gia đình có mộ liệt sỹ "Nguyễn Khuyến" cùng xét nghiệm ADN của người thân. Sau nhiều lần kiểm tra xét nghiệm chu đáo, Viện công nghệ sinh học Việt Nam đã có kết luận chính thức: hài cốt dưới ngôi mộ liệt sỹ "Nguyễn Khuyến" là hài cốt của Liệt sỹ Hoàng Quang Vinh- cha cháu".

Một ngày đầu tháng bảy, tôi lại trở về làng Phượng Lịch để thăm lại người "Pháo thủ số 1", người "tử tù" ở Phú quốc năm xưa. Ông Dương vắng nhà, cháu Nga con gái thứ ba của ông Dương nói với tôi giọng ngượng nghịu và đưa tay ra hiệu rằng cha cháu đang ở ngoài đồng. Tôi biết cháu Nga năm nay đã gần 30 tuổi, là nạn nhân chất độc da cam do di chứng từ người cha để lại. Nhìn cô gái tật nguyền và ngôi nhà đơn sơ của người đồng đội cũ, tôi thấy cay cay trong mắt! Đã từng là một người lính gần như cùng thời với Vinh và Dương, tôi biết sẽ còn rất nhiều thiên truyện, rất nhiều những kỷ niệm bi tráng về những người lính trong cuộc chiến tranh giữ nước vĩ đại của dân tộc- về những người "tử tù", về những liệt sỹ chưa được khắc tên mình lên trên bia mộ! Nhưng tôi vẫn tin rằng họ không bao giờ "vô danh", tên tuổi và sự hy sinh của họ sẽ mãi mãi được khắc ghi vào một tượng đài vĩnh cửu - "Tượng đài Việt Nam"!

Trần Cảnh Yên



Ý kiến của bạn





Nội dung:* (Bạn vui lòng gõ tiếng Việt có dấu)