Chuyên đềTìm kiếmTin mi
|
Khe Sanh (Làng Cát) phần 2 (tháng 5.2008)(07/12/2009 19:44:34 PM)Sau chuyến đi Khe sanh lần 1, mình vẫn còn lơ ngơ. Những sự kiện được chứng kiến như liệt sĩ A, liệt sĩ B nhập về chỉ mộ, mình vẫn biết mà để đó, chưa có ý kiến gì cả. Tất cả những gì mình làm sau đó và kể cả lần đi Khe Sanh thứ 2 cũng do cô L thu xếp. Mình chỉ quyết về kế hoạch và đường lối làm việc. Chuẩn bị..... Trở lại sư 308 để tìm thêm thông tin về trận đánh cuối tháng 5 đầu tháng 6 năm 1968 tại sư đoàn. Con số liệt sĩ hy sinh không phải là vài chục mà lên tới vài trăm. Trong danh sách liệt sĩ có một cái tên khiến mình chú ý: Trương Triệu Quý. Bác này lạ là phần đơn vị ghi là E88 trong khi các chú kia, có cả chú T.M.T ghi là E 102. Thú vị hơn là phần nguyên quán ghi là Yên Phong (sau này mới biết chú nguyên gốc là dân Hà Bắc) nhưng thân nhân lại ghi 189 Trần Nguyên Hãn, Hải Phòng. Khi đó lạ lắm, không hiểu cái gì cả. Mãi sau này khi đã nắm thêm được thông tin và tự mình đọc rất kỹ lịch sư sư 308 thì mới hiểu Sư 308 có 2 sư đoàn lớn là 102 ký hiệu là E 102 (trung đoàn Thủ đô) và 88 ký hiệu là E 88 (Trung đoàn Tu Vũ). Sau thời kỳ 1968 thì Trung đoàn Tu Vũ này không chiến đấu tại Quảng Trị mà tiến lên Tây Nguyên, rồi thẳng vào Đông Nam Bộ sáp nhập vào sư đoàn 1, rồi sư 5, rồi sư 9. (Còn lý do tại sao chú Quý lại hy sinh cùng với lính trung đoàn 102, mình sẽ giải thích ở phần sau khi chị Hoài tìm thấy liệt sĩ Quý còn nguyên xương thịt, quần áo, thắt lưng). Nhìn chằm chằm vào dòng thông tin của chú Trương Triệu Quý có một cảm giác rất lạ mà chưa thể giải thích nổi. Có gì đó cứ thôi thúc mình. Về Hải Phòng nhiều lần nhưng không quyết tâm tìm mà chỉ nghĩ cần tìm thôi. Vài lần như vậy thành ra phải “chỉ đạo” cho đồng chí Hùng - con 1 liệt sĩ và là Trưởng đại diện của Marin ở Hải Phòng: anh tìm cho được thân nhân của chú này xem tình hình thế nào? Sau 2 tuần thì vào một ngày nắng chang chang, mình có điện thoại. Khi đó đang đứng giữa sân của tập đoàn PRIME. Nắng lắm! Chị ấy xưng là cháu gái của liệt sĩ Trương Triệu Quý đang gọi từ Hải Phòng. Một khoảng cách gần 200km mà người mình da gà nổi hết lên. Đó là thời điểm giữa tháng 4 năm 2008 – đang giai đoạn chuẩn bị cho Khe Sanh lần 2. Đầu tháng 5.2008. một cuộc họp mở rộng cho thân nhân gia đình ls sư 308 hy sinh năm 1968 đã được tổ chức tại văn phòng MARIN ở HN. Tham gia có 7 gia đình thân nhân liệt sĩ, đại diện Marin, nhà ngoại cảm Nguyễn Ngọc Hoài. Buổi họp khá căng thẳng vì bị sai kịch bản một chút nên phần giới thiệu về Trung tâm không được chu đáo khiến sau này mọi người vẫn nhầm tưởng là của nhà nước và có ngoại cảm. Mấy chị cháu gái của liệt sĩ Quý thì chỉ chăm chú tìm đồng đội của liệt sĩ nhưng có một ông cháu rể (khoảng hơn 50) cứ luôn muốn phủ nhận tất cả những thông tin mà Trung tâm đưa ra: Chú Quý không chết ở làng Cát, vớ vấn làm gì chết ở đó. Tôi cũng là lính sư 308, tôi biết, vớ vẩn, các anh các chị cứ huyên thuyên. (Chuyện này sẽ giải thích ở phần Hậu Khe Sanh. Lý do tại sao liệt sĩ Trương Triệu Quý có tên hy sinh tại làng Cát nhưng thực tế chú hy sinh ở bản Húc cách đó khoảng 5km. Và đây là 1 trong những kinh nghiệm khi tìm liệt sĩ – kể cả tìm bằng ngoại cảm) Mình cáu quá, đập bàn. “Anh im lặng nếu không tôi mời anh ra khỏi chỗ này ngay. Anh không đồng ý là việc của anh, chúng tôi lấy thông tin từ sư đoàn”. Ngoài nhân vật này thì có nhân vật tên Sinh - cháu liệt sĩ An cũng như người trên trời. Mình đã nói rõ từng quy trình, bước đi, anh ta khi cần nghe không nghe cứ mải nói chuyện đến khi không hiểu gì lại hỏi ầm ĩ lên. Và có 1 nhân vật nữa là 2 cựu chiến binh thực thụ của 102 có tham gia trận chiến đêm đó cứ nói là khóc và khóc vì thương đồng đội mình. Chỉ nhớ tên 1 chú là chú Cử. (Mình đã gặp chú nhiều mà quên chưa hỏi lại chi tiết trận đánh đêm hôm đó) 5h ngày 5.5.2008, anh Hùng đã gọi cửa. Mình dậy lúc 4h. vẫn như năm ngoái mọi công tác chuẩn bị có cô L lo liệu. Xuống nhà ăn sáng, mình tranh thủ điểm danh. Đoàn xe của thân nhân ls hơn 10 người, đoàn xe Trung tâm ngoài xe chú Thành 12 chỗ có thêm xe anh Hùng 4 chỗ từ Hải Phòng lên. Vừa ăn mình vừa nói bâng quơ: Ơ, nhà bác Quý bảo đi riêng 1 xe, giờ không thấy ai là sao? Có tôi đây, tôi là thân nhân liệt sĩ Trương Triệu Quý. Ngó ra một thanh niên ngoài 30, đậm người, mặc quần sọc, ba lô con cóc đang ăn phở bàn kế bên. Tôi tên Dương – cháu gọi liệt sĩ Quý là chú, tôi đi theo cùng xe với gia đình liệt sĩ. Cô Thi - chú Tiến sang. Cô chú tạm biệt nhau. Mình leo lên xe thân nhân liệt sĩ giới thiệu lại Trung tâm, họ tên mình và thành phần đoàn tham gia nhưng không giới thiệu Hoài và phát tài liệu : lịch trình, bản đồ, thông tin về trận đánh, mục đích, thành phần tham gia chuyến đi. Xe qua bách hóa Tổng hợp Thanh Xuân đón em Tuy - phóng viên báo Nông thôn ngày nay và bạn em Tuy. Xe chạy tới cầu Hà Đông đón thêm bạn cô L và cũng là bạn học của ls T.M.T, đón thêm 2 phóng viên là em Bình - báo Lao động xã hội và em Dũng – báo Khoa học đời sống. Qua Thanh Hóa đón thêm 3 người nữa là Hoàng Thị Thiêm, em gái và chồng của Thiêm. Chả ai chào hỏi ai.
Lên đường..... Tháng 5, trời Hà Nội sau cơn mưa sáng sớm trời dịu hơn. Mỗi người một tâm trạng. Đến giờ, khi ngồi viết lại câu chuyện này thì mình vẫn muốn nói người mà mình thấy thương nhất là cô L đã lo toan lo lắng cho cả chuyến đi. Dù mục đích gì đi nữa thì cô ấy cũng là người vất vả nhất cả vật chất và tinh thần. Nhưng sự thật vẫn là sự thật, những gì cần nói thì cần phải nói. Tối muộn ngày 5.5.2008, cả đoàn mới tới nhà nghỉ 27.7. Chú Bằng và chú Hùng (Sở lao động tỉnh Quảng Trị) đã bố trí sẵn nên việc lấy phòng, nghỉ ngơi cũng không có chuyện gì nhiều. Nhưng cả chặng đường mình rất lo lắng một chuyện. Ngay đêm đó chị Hoài đề nghị mình cho gặp gia đình liệt sĩ Quý. Mình mời anh cháu liệt sĩ sang, chị Hoài có hỏi một vài thông tin (Chuyện về việc tìm kiếm ls Quý và chi tiết từ lúc chị Hoài gặp anh Dương và tìm ra chú Quý - chi tiết tại Hành trình tìm liệt sĩ của www.nhantimdongdoi.org). Khi anh Dương ra khỏi phòng, chị Hoài có nói : rắc rối quá em ạ, hay cho chị về lại Hà Nội thôi, chị không vào Khe Sanh đâu. Vụ này phức tạp và có nhiều chuyện lắm em ơi. Cho chị về. Mình chỉ nói : đã tới đây, chị phải giúp em, chuyện đâu còn có đó, em có thể mời bất cứ ai ra khỏi đoàn nếu làm ảnh hưởng đến công việc chung và mục đích của chuyến đi đã thống nhất ngay từ đầu tìm được chú nào thì tốt, còn chủ yếu là cầu siêu cho nhóm liệt sĩ hy sinh trong đợt 28.5.1968 của sư 308, chị an tâm. Ăn sáng xong cả đoàn vào chợ Đông Hà mua sắm thêm. Từ chợ Đông Hà cả đoàn lại lên Khe sanh, qua NTLS huyện Hướng Hóa cả đoàn vào thắp hương duy chỉ có mình và Hoài phải ngồi lại xe.
Chụp tại làng Cát Chiều cả đoàn vào làng Cát. Nó vẫn thế chỉ duy nhất một điều là bọn trẻ con thân thiện hơn. Chúng nó kéo hết ra chào đón đoàn. Và đây là lần đầu tiên mình vào bản của dân làng Cát. Cả bản có hơn 20 nóc nhà, nửa nhà rông, nửa nhà sàn. Trẻ con toàn áo một manh, quần một mảnh, có đứa còn cởi truồng, chân đất. Vợ chồng trưởng bản Người trong bản là dân tộc Vân Kiều nên ai cũng đen nhẻm đen nhèm. Nhà trưởng bản có một cái ti vi cũ kỹ xem ra khộng có cái ti vi nào cũ bằng. Nhà tối thui, dưới sàn là gà và lợn mọi. Chúng cứ quang quác vì người lạ đông quá, bọn trẻ con thì bu đen dưới chân nhà sàn. Chia bánh kẹo xong, cô L vào vấn đề là muốn tìm liệt sĩ và nhờ bản giúp. Xì xồ rồi lại xì xồ, bọn trẻ phiên dịch lại cho lớp người già, và trả lời thay cho người già. Mình thì nghĩ hơn cực đoan tí : dân tộc biết gì mà chỉ vả lại bọn trẻ nó có hiểu gì đâu, vào bản làm cho phải phép. Dân bản không quan tâm là có tìm được hay không, có biết chỗ nào hay không mà chỉ quan tâm nếu mang xác ra thì phải cúng thần núi thần sông bao lợn, bao gà gì gì đó (cái này hình như chị Hoài ghi rất đầy đủ), tất cả quy ra tiền, hình như là mấy trăm ngàn cả thể. Mình khát nước, uống lấy uống để cái thứ nước đen đen thơm thơm mùi cỏ ấy. Sực nhớ ra thì đã tu đến vài cốc, chả hiểu có ảnh hưởng gì không ? Tiền cúng thần núi, thần sông xin tìm liệt sĩ được trao cho Trưởng bản và đoàn lại hành trình lên cao điểm Rolo.
Con đường trắng mờ mờ là đường 9 đấy Lại leo núi. Mình cứ bám vào anh Hùng và thằng em Tuy. Lần này có các anh và các em theo cùng nên mình không vất vả, khổ sở như lần trước. Từ đây mình mới chú ý tới anh cháu liệt sĩ Quý – Trương Thái Dương. Anh này đậm người. Cứ leo một khúc lại ngồi lại thở dốc, mặt đỏ bừng như chú Tiến. Thở, nghỉ, leo tiếp. Mấy thằng bé dân tộc đi theo có thêm việc làm mang giúp đồ cho mọi người. Chúng nó cứ thoăn thoắt còn người Kinh thì cứ than cao quá, mệt quá, mỏi quá. Mình lầm lũi đi sau chị Hoài và nhóm anh Hùng. Trường Sơn vẫn thế. 1 năm qua đi các chú ấy vẫn còn đâu đó loanh quanh vùng núi này. Chiều chạng vạng đoàn cũng lên tới nơi. Lần này thanh niên, nhà báo theo nhiều và mình đã từng đi một lần rồi nên cũng thảnh thơi.
Vào cuộc... Theo ý kiến của mọi người, đoàn tập trung xa hơn chỗ năm ngoái khoảng 500m (chỗ này bằng phẳng hơn, thoáng đãng hơn và gần với khu vực đào năm ngoái hơn). Vừa đặt ba lô là trời sầm xuống. 3 cậu nhà báo và mấy cậu thanh niên con cháu liệt sĩ vội vàng chặt cây rừng căng bạt làm lều trại. Lều sắp xong thì mưa. Mưa rừng. Ào ào. Bạt không đủ kín. Thấm nước mưa. Nhìn ra xung quanh rừng âm u. Mưa rừng đến rồi đi cũng nhanh. Mọi người bắt đầu chuẩn bị cơm nước. Rau ngót khô, gạo, mỳ gói mang theo, củi là cây khô trong rừng. Khói nghi ngút. Cơm vừa xong là chiều tối sẫm. Ánh lửa bập bùng. (Công tác hậu cần cô L quá chu đáo nên không ai bị đói) Em Tuy, chú Vũ Ngọc Tiến, em Tiến Dũng (báo KHDS) Em Tuy và em Dũng lĩnh xướng, những bài hát về Trường Sơn, về bác Hồ lại vang vọng núi rừng. Lửa vẫn bập bùng. Mình cũng tham gia cổ vũ cho mọi người. Chồng Thiêm chả hiểu sao tự dưng mắc võng tận phía bìa ngoài. Hì hục tìm cành cây treo võng. Anh Dương cháu chú Quý cũng kiếm cho mình một chỗ gần lán trại. Còn lại chui hết cả vào trong lán. Lần này mình bớt ngu hơn lần trước nên tranh thủ ngủ. Đâu có đó tiếng thì thầm. Chồng Thiêm tự dưng nhảy lên đùng đùng rồi khóc, rồi cười. Vớ vẩn. Nửa đêm, ánh lửa bập bùng. Chị Hoài cứ cặm cụi làm cái gì đó mà mình không biết. Mình lạnh quá, mò mẫm ra sau lưng anh Hùng: em lạnh quá. Nằm lui ra đống lửa, lấy áo anh mà khoác thêm vào. Anh Hùng là con của chú liệt sĩ Trần Văn Linh, anh là người Hải Phòng, anh đã từng liên hệ với Trung tâm từ năm 2006 nhưng mãi đến năm 2007, khi mình về lại Hà Nội thì mới biết anh qua một ông anh ở Hải Phòng. Sau chuyến đi tìm mộ bố ở Quảng Bình, anh đã trở thành người thân thiết và luôn động viên mình. Lần đi Khe sanh này anh đã bỏ công, bỏ của, bỏ thời gian đi cùng đoàn. Anh bảo: anh đi giúp mày, chứ mình mày lại loay hoay. Lạnh quá, chả ngủ tiếp được. Lọ mọ kéo cả anh Hùng dậy. Chị Hoài đang nói gì đó với anh Dương. Trời sáng dần dần. Lục tục thay nhau đánh răng. Cháo, mỳ ăn sáng. Cô L gắt ầm lên. Anh Hùng gọi mình ra. Hóa ra đêm qua Hoài đã ngồi vẽ lại nơi chôn cất chú Quý. Hoài nói nhanh với mình : ông Quý không chết ở đây mà chết bên kia. Mình tin chị Hoài. Cô L xăm xăm dẫn đoàn gia đình liệt sĩ xuống cái vực mà năm ngoái đã tìm chú T.M.T ở đó. Nhẽ ra mình phải ngồi lại ngay lán trại để điều phối các hoạt động nhưng không hiểu tại sao lại quyết định đi theo chị Hoài, anh Dương, anh Hùng đi theo. Cô L đi rồi thì thằng bé dân tộc mới lò mò lên. Anh Dương túm luôn nó hỏi. Anh ấy đưa hình chụp năm ngoái hỏi nó có biết chỗ này không ? nó bảo có. Thế là bỏ lại sau lưng đoàn gia đình liệt sĩ ( họ đã theo cô L và Hoàng Thị Thiêm xuống vực phía dưới), mình đi theo hướng tiến vào sâu hơn. Không dám dừng lại cứ cắm đầu mà đi. Đi hết con dốc này đến con dốc khác. Chợt nghĩ! Sao mình liều thế. Nhỡ chết ở cánh rừng hoang vắng này, biết đâu mà tìm. Anh Dương cháu chú Triệu Quý đi trước, Hoài tiếp, mình bám theo anh Hùng. Cứ lầm lũi đi. Lúc đầu còn hồ hởi, càng đi càng vào sâu, càng không thấy đường. Trên đầu là rừng già, men theo cây rừng mà đi. Vắt rừng! Cả đời chưa thấy vắt chỉ nhìn thấy con đỉa ở những mớ rau mẹ mua. Sau cơn mưa đêm, vắt rừng như lá cây rừng. Nó quăng mình bám chặt vào da thịt. Máu và máu, tanh tưởi khắp người. Lọ cao mang theo xoa cho bằng hết vẫn không tránh nổi vắt. Loài vắt nhỏ hơn con đỉa, bé hơn con sâu đo. Đi có nhanh cỡ nào vắt cũng bám được vào người cỡ đó. Lúc đầu còn rú lên vì sợ và đau. Sau không còn sức để rú nữa. Mặc vắt. Vì dừng lại gạt nó leo lên chân này thì chân kia và khắp người nó đã bâu đen kịt. Lúc đầu còn lấy tay cấu nó bám vào da thịt. Có cảm giác chỉ cấu được một phần thân thể nó, phần còn lại nó chui tụt vào mạch máu của mình. Sau chỉ kịp vừa chạy, vừa đi vừa gạt vắt không dám dừng lại một giây phút nào. Nhìn thấy những cây chuối rừng cao lêu khêu, chêch vênh, tiếng suối róc rách, mình thở đều nhưng chạm vách là núi dựng đứng, dưới chân là suối lạnh. Mấy chị em tranh nhau rửa chân và lau mặt, tranh thủ tìm và gạt những con vắt còn lại trên người. Anh Dương thở hắt ra vì mệt. Mình không nói câu nào. Nhìn vách đá và dòng suối lạnh mà sợ. Chưa khi nào mình có cảm giác sợ chết như thế. Rừng hoang vu không một bóng người. Lại tiếp. Men theo con suối. Ì oạp. Mấy anh em đỡ nhau đi. Không ai nói câu nào. Chạm vách núi dựng đứng. Hoặc là là quay đầu lại hoặc là đi tiếp. Điện thoại không còn sóng. Mấy chai nước mang theo trong 3 cái balo chỉ còn 2 chai và vài phong lương khô. Đá trơn trượt bởi nước đổ từ trên cao xuống rêu xanh. Bám vào những rễ cây rừng, dò dẫm bước chân trên những gềnh đá còn trắng khô, mấy anh chị em lầm lũi leo. Qua cái vách núi đó. Đứng trên nhìn xuống hoa mắt bởi độ cao, bởi phía dưới là vách vực sâu. Mình nhất định không đi nữa. Quay về thôi, nếu chiều không qua được con suối này, nước suối lên chết cả lũ. Chân lạnh cóng vì nước suối. Ngửa đầu lên thấy những giò phong lan rừng đẹp mê hồn. Cao quá. Mím chặt môi, cương quyết: phải nghe em vì em vẫn là trưởng đoàn, về lại nơi xuất phát thôi. Không thể tìm được. Anh Dương mệt, anh Hùng cũng mệt. Chị Hoài cứ cố: đi thêm chút nữa. Thằng dân tộc cũng hốt hoảng: lạc đường rồi, tao quên rồi, chúng mày đứng đây để tao cắt rừng tìm đường về. Chưa kịp nói gì thằng dân tộc đã biến mất sau những tán cây rừng. Đợi khoảng hơn 30 phút, chính chị Hoài phải hét lên: lấy cây rừng đánh dấu mũi tên đi, về thôi. May quá vừa định quay ra thì thằng dân tộc xuất hiện. Nó bảo năm ngoái nó và 1 thằng nữa vào rừng thấy có 2 bộ hài cốt trong khe đá và 2 khẩu súng. Súng nó lấy bán rồi giờ nó dắt đi tìm bộ đội. Tìm mãi không ra lúc nó quay lại định về bản gọi thằng năm ngoái lên tìm cùng nhưng mệt quá nên lại quay lại. Quay lại. Cả chặng đường lại chạy vắt. Không còn lá ướt vì trận mưa đêm qua nhưng vắt vẫn không buông tha đoàn. Kinh nghiệm có thêm chút nên không đứng lại, không được đi chậm. Về gần quả đồi bên cạnh chỗ lán trại thì bắt đầu có hiện tượng mưa và đáng ngại là anh Dương bị quỵ xuống. Cả đoàn phải dừng lại. Lại vắt, anh Hùng phải đốt lá cây đuổi vắt tạm. Thay nhau nắn chân cho anh Dương. Dường như anh ấy bị co cơ nên không thể đi được. Mình gọi cho Tuy: nó bảo tìm được 8 chú rồi nhưng chuyện còn dài ra em sẽ kể. Cả đoàn hơi chưng hửng. Sau một hồi nắn bóp chân thì anh Dương nhúc nhắc được. Đồ của anh chuyển sang “thằng dân tộc”, anh Hùng dìu anh Dương. Lại tiếp tục dìu nhau xuống. Cả đoàn tới nơi tập kết khoảng 4h chiều. Nhóm cô L, Hoàng Thị Thiêm và gia đình cũng lần lượt kéo ra. Mình nhìn thấy vài “gói tròn bọc lá cờ tổ quốc”. Khu vực theo lời mọi người là tìm thấy 8 hài cốt, còn thấy rõ rễ cây và rất nông. Trời chiều. Trường Sơn lạ lắm. Nắng không còn chiếu thẳng mà lấp ló trên những tán cây. Mình xuống tới nơi nhưng tâm trạng rất căng thẳng. Phần vì nhóm đi tìm chú Quý không có kết quả, phần vì nhóm cô L tìm thấy 7 chú. Khu lán trại vui không ra vui, buồn không ra buồn. Mỗi người một tâm trạng. Thân nhân liệt sĩ có người ngồi thẫn thờ ngồi nhìn xuống khu vực đang đào bới, người thì thấy mình là muốn hỏi ngay. Bọn em Tuy thì nhìn mặt rất khác lạ. Chúng chả nói chả cười. Mình hỏi ngay Tuy: sao em? Thì tìm được 8 chú, vong nhập vào chỉ nhưng chỉ có đất đen? di vật? không có gì, cô L có nói có cái nắp đen pin nhưng em cũng không biết có đúng không? Theo em nên thế nào? chị phải có ý kiến. ừ. Theo em nên làm 1 cái bia là tìm tới đây thôi. Tuy nhiên còn tùy gia đình chị ạ. Bọn em chán quá nên xuống suối tắm rồi, sau em cũng chả biết cụ thể thế nào cả. Mình quay ra hỏi gia đình liệt sĩ. Có một chú là em trai của ls nói (mình quên tên chú ls này, chỉ ): tôi cũng không rõ nhập vào mấy cô kia chỉ mộ nhưng có thấy gì đâu cô? tôi cũng không biết, thôi cũng gói vào rồi xin chuyển vào NTLS đường 9 thôi chứ gia đình tôi không có căn cứ mà mang về quê. Thằng cháu ls An thì mồ hôi mồ kê nhễ nhại: thôi, để lại NTLS đường 9 chứ có gì đâu mà dám chắc là ls nhà mình. Duy chỉ có một gia đình ls ở Ninh Bình là (tên là gì mình cũng không nhớ rõ) và cô L là hồ hởi nhận. Mình quay ra hỏi BCH, anh này bảo: dạ thì gia đình liệt sĩ đồng ý thôi vì thực tế sau 40 năm rồi cũng chả có xương cốt gì, có cái nắp đèn pin chị L nói thôi chứ di vật cũng không có gì cả.
Đây là di vật duy nhất được tìm thấy (cô L bảo là nắp đèn pin, còn mình không thể gọi tên nó là cái gì) Khi đó, ai cũng mệt, anh Dương và chị Hoài – Hùng cùng muốn xuống luôn trong chiều. Mình quyết định xuống. Có thật là quy tập được 8 bộ hài cốt? Cả đoàn thu dọn đồ đạc. Mình dửng dưng. Không có chút cảm xúc vui buồn. Bỏ lại sau lưng là cánh rừng Trường Sơn, là một trận lạc rừng tưởng chết bởi vách núi cao, nước suối lạnh và những con vắt tanh nồng mùi máu tươi. Xuống tới làng Cát đã có xe của BCH quân sự tỉnh Quảng Trị đón ở đó, chào hỏi xong mình quay ra chỗ chú Thành. Khi chú nghe báo tìm được ls T.M.T chú có cố gắng trèo lên cao điểm nhưng tới đó không chụp hình được vì không ai cho quay phim cả. Có một chi tiết cô L nói là 1 chân ls T.M.T bị văng ra nên chú Thành bảo cố tìm cái chân đó thế nào cũng có dép hay giầy thì đó là di vật duy nhất để xác minh có đúng là tìm được hài cốt hay không? Nhưng tìm mãi mà không thấy nên chú cũng thôi cháu ạ. Mình và cô L không nói chuyện với nhau, Hoàng Thị Thiêm và em gái, chồng thì cứ nói những gì đó mà mình không nghe. Đoàn chia 2 nhóm. Nhóm chị Hoài, anh Dương tách đoàn về thẳng nhà nghỉ Khe sanh chuẩn bị cho việc tìm chú Trương Triệu Quý tiếp theo. Nhóm còn lại về huyện đội Dakrong Cả đoàn qua huyện đội Dakrong. Buổi làm việc diễn ra trong ánh đèn pin, dầu vì hôm đó khu vực này mất điện. Mình chưa có ý kiến chỉ ngồi nghe họ nói.
Sau đó mình có điện thoại gọi từ Quảng Bình báo việc làm lễ truy điệu ngày mai tại NTLS Ba Dốc nên mọi việc sau đó thế nào chỉ nghe em Tuy và cánh nhà báo kể lại. Huyện đội công bố mỗi người trong đoàn có 300.000VND cho việc tìm kiếm (cái này rất mới so vời năm ngoái và mình cần cung cáp thông tin cho thân nhân ls biết). Tổng số tiền hôm đó, ngoài nhóm thân nhân ls còn người của Trung tâm, nhà báo thì toàn bộ chuyển cho cô L để góp cho chuyến đi. Mãi sau này khi về Hà Nội, em Tuy (báo Nông thôn ngày nay), em Dũng ( báo Khoa học đời sống), em Bình (báo Lao động xã hội) mới bảo là khi chị đi rồi cứ rối tung lên, bên BCH tỉnh Quảng Trị xác nhận tìm được 8 liệt sĩ, bọn em cứ vặn hỏi: các anh căn cứ vào đâu mà bảo đó là hài cốt liệt sĩ, xương không có, di vật không? Em Dũng bảo họ cũng thôi không trả lời và bọn em cũng không muốn xoáy sâu vào nữa. Mình nghe điện thoại xong thì bên trong cũng đã vãn họp. Mình có gặp chỉ huy của huyện đội Dakrong cảm ơn. Quay ra thì bàn hương hoa quả cũng đã bày đủ lễ lạt.
Cả đoàn lên oto về nhà nghỉ 27.7. Mình quá mệt, mặt phờ phạc, khản hết cổ họng. Phần do căng thẳng, phần do chuyến lạc trong rừng hơn nửa ngày trời thấm mưa rừng, thấm lạnh , vắt cắn nên mình có cảm giác sinh lực đi hết, chân tay rã rời chỉ chịu đổ bệnh. Anh Hùng quá lo lắng cho mình, anh kéo mình và em Quỳnh (bạn của em Tuy) ra ngoài ăn tối. Ăn xong bát cháo ở ngay thị xã Đông Hà chỗ trung tâm thương mại Việt Lào, anh bảo, anh thuê khách sạn cho mày ở lại đừng về 27.7 nữa vì chỗ đó đêm nay chật quá rồi. Mày nghỉ ngơi để ngày kia còn tham dự truy điệu và làm cầu siêu cho liệt sĩ nhé. Ngày mai mày nên tránh đi, kệ họ nhé. Mai anh ra Quảng Bình truy điệu bố anh Phong cùng chú Liên xong việc anh về thẳng Hải Phòng nhé. Mình đơ cả ra rồi nên ăn xong lên ngay phòng ngủ mà anh Hùng thuê cho mình và Quỳnh ngủ lăn quay. Trước đó mình có tranh luận kịch liệt với cô L về việc để cho huyện Dakrong họ sẽ tự chuyển liệt sĩ từ Darkong ra còn cả đoàn sẽ lên thẳng NTLS đường 9 để tham dự nhằm tránh 1 chuyến đi từ Đông Hà vào cho chú Thành và đoàn nghỉ ngơi nhưng cô L không chịu và rất to tiếng. Mình cũng to tiếng vì quá mệt mỏi rồi. Sau cùng chú Thành nói: thôi chú đưa đi, không sao cả. Nói một chút là chú Thành bị bệnh gì đó nên rất đau chân, chú lái xe cả chặng đường từ HN vào Đông Hà, lên Khe Sanh và còn cả chặng về nên mình rất ngại khi chú không được nghỉ ngơi. Sáng hôm sau mình không vào Dakrong mà ngủ mê mệt đến hơn 10h. Chiều mới tỉnh lại đi loanh quanh ở Đông Hà một mình. Chuyện trong Dakrong sau này chú Thành có kể lại cho mình rằng giữa chỗ đông người cô L đã nói những điều không ok lắm về mình. Cụ thể việc này có thân nhân liệt sĩ và cô L nắm rõ nhất mình cũng không tiện hỏi. Suy cho cùng cô L là người vất vả nhất đoàn nên việc cô ấy cáu hay cô ấy khộng thoải mái cũng phải thôi vì chủ yếu tiền cho chuyến đi là do cô ấy lo liệu, số ít là chị Hoài, mình và một vài thân nhân khác đóng góp. 12h trưa mình trả khách sạn cùng em Quỳnh về lại 27.7 thì cô L bảo: Đang tức cái Hằng quá, may mà có khoản tiền này nên cũng đỡ tức (khoản tiền mà cô ấy nói là 300.000VND cho mỗi cá nhân tham gia). Khi mình mê mệt ở khách sạn thì cả đoàn vào huyện đội Dakrong để ký giấy tờ bàn giao và ký nhận tiền quy tập. Có chi tiết rất hay là không hiểu sao Hoàng Thị Thiêm chồng Thiêm và em gái Thiêm lại ra về ngay sau buổi làm việc với huyện đội Dakrong tối hôm qua.. Nghe anh lái xe nói lại là thấy đứng lơ ngơ ở cổng nhà nghỉ 27.7 nên anh đưa ra bến ô tô suốt cả chặng ra bến cứ luôn mồm nói em Hằng chả ra sao. Họ đã tìm được những 8 liệt sĩ mà không thèm cảm ơn hay hỏi han gì. Còn cô L thì lại nói là cả đoàn ra tiễn và cảm ơn rối rít. (Chả biết nên tin ai nữa). Ngay khi nằm trong khách sạn lúc mê mê tỉnh tỉnh thì mình đã kịp lên kế hoạch cho ngày mai: tham gia truy điệu buổi sáng, chiều làm cầu siêu. Hôm sau về Hn sớm. Mình về tới nhà nghỉ thì nhóm thân nhân liệt sĩ đã đi Huế chơi. Còn lại nhóm cô L. cô S, cô B, chú Thành, chú Tiến. Thấy tình hình mình và cô L căng thẳng quá, chú Thành rất buồn muốn hai cô cháu cùng ngồi lại nên đã mời chú Tiến sang. Mình không thanh minh hay nói gì cả, chú Thành nói ra hết những suy nghĩ và cũng mong cô L nên nói đúng nói đủ thông tin đừng thêm bớt gì cả. Ngay khi từ trong rừng ra đến lán trại nhìn thấy cảnh mấy bọc phủ cờ đỏ mình đã nhủ thầm trong đầu và tuân thủ theo ý nghĩ: không biết có phải là 8 hài cốt của các chú không vì cháu không chứng kiến việc đào bới nhưng thôi linh hồn 8 chú cứ theo đó mà về cho có nơi có chốn. Ai làm sai người ấy chịu. Vì ý nghĩ đó mà mình cũng không muốn nói năng gì cả. Mình ngộ ra chuyện ấy. Cuộc nói chuyện có chú Tiến, chú Thành, cô L và mình cũng nhẹ nhàng vì mình không nói gì cả. Ai nói mình cũng dạ và lắng nghe thôi. Đêm đó mình ngủ ngon. Sáng sớm cả đoàn lại lục tục kéo nhau vào Dakrong để cùng huyện đội bàn giao liệt sĩ cho BCH làm truy điệu tại NTLS đường 9. Ban bệ đủ cả. Đông đúc lạ thường. Hương khói nghi ngút.
Đoàn tới NTLD đường 9 khoảng 8h sáng. NTLS đông hơn thường ngày. May mắn là có nhóm liệt sĩ được quy tập từ Lào về nên các chú thuôc sư 308 cũng được tham dự lễ truy điệu mang nghi thức quốc tế: đại diện BQP Lào, đại diện BQP Việt Nam , bộ Lao động xã hội, các ban ngành của tỉnh Quảng Trị.
Xong lễ truy điệu cả đoàn về nhà chú Phú – cô Hoa (chú Phú là lính sư 308, cô Hoa là biệt động từng giam chung với bà Trương Mỹ Hoa. Hai vợ chồng cô chú đã tiếp đón đoàn đúng như những người thân trong gia đình. Chuyện về cô chú mình sẽ viết sau này.) Cơm xong cả đoàn lại chuẩn bị cho việc cầu siêu (mục đích quan trọng nhất của chuyến đi) tại chùa Tứ Sắc.
Đêm đó đoàn về lại nhà nghỉ 27.7 để sáng sớm hôm sau ngược về lại Hà Nội kết thúc hành trình Khe Sanh lần 2 năm 2008. Chưa có hồi kết Chuyến Khe Sanh lần hai chưa chấm dứt ở đó vì sau chuyến đi còn bao nhiêu chuyện xảy ra: cháu ls An hốt hoảng sang nhà chú Thành: chú là người lớn chú nói cho cháu biết Trung tâm đó là thế nào? Chuyện đó là thế nào? Cháu không tin.; chị Hoài vẫn tiếp tục hành trình tìm chú Quý để chứng minh rằng cũng 40 năm đấy liệt sĩ Quý khi tìm thấy còn nguyên tăng võng, nguyên quần áo thăt lưng, nguyên xương cốt vẹn toàn cách xa khu vực đoàn tìm hơn 5km đường rừng và theo hướng khác; phóng sự dài kỳ bên báo Nông thôn ngày nay do phóng viên Đào Thanh Tuy viết sau đó có rất nhiều thư nặc danh, tin nhắn gửi tới tòa soạn và bản thân tôi cũng nhận được nhiều tin nhắn nặc danh lời lẽ rất vô văn hóa và hằn học; thêm nữa là tin gửi nặc danh tự xưng là cựu chiến binh trung đoàn 102, sư 308 nhắn trên phần Liên hệ của www.nhantimdongdoi.org cô Hằng có được thông tin trong cuộc họp mặt lính sư 308 nên đã cung cấp cho chị Hoài để tìm ra mộ chú Quý. Càng nghĩ tôi càng thấy thương cho những người đã nhắn tin nói những điều không đúng. Chu yện Hồi kết của Khe sanh tôi sẽ viết tiếp sau này trong một entry về ngoại cảm, giải mã các hiện tượng về ngoại cảm. Thông tin đó chỉ nằm trong sự hiểu biết hạn hẹp của tôi có thể đúng có thể sai nhưng tôi tin là tôi cảm nhận đúng. Và quan trọng hơn là tôi hiểu, ngộ ra rằng trong cuộc đời này, ai sai ai đúng ta cũng không cần phải xét nét hay khó chịu, hay đau khổ. Sự thật về 02 chuyến Khe Sanh đã tự nó nói lên tất cả, những tình tiết sự việc là một minh chứng chân thật nhất mà bản thân tôi không thể bịa đặt ra. Ngô Thị Thúy Hằng
|