Chuyên đềTìm kiếmTin mi
|
Ba lần tôi đi tìm em (phần 1)(20/7/2009 10:27:58 PM) Ngày ấy chúng tôi ra trận đều vừa mười tám, đôi mươi. Tuổi mơ ước, hứa hẹn, ấp ủ…. Em tôi đậu cơ điện Bách khoa Hà Nội năm ấy, nhưng giấy báo nhập ngũ đến trước. Ước mơ, hoài bão ai mà chẳng có, xong đành xếp lại. Có một câu thơ nhà thơ Tố Hữu đã viết những năm tháng ấy: “Mỹ hại trăm nhà lo diệt trước. Rắn mình em chịu có sao đâu”. Theo lời hiệu triệu của Bác Hồ: Tất cả để chiến thắng giặc Mỹ xâm lược. Con em Miền Nam trở về giải phóng quê hương. Lời hiệu triệu thiêng liêng ấy đã giúp chúng tôi vượt qua bao gian khổ hy sinh ác liệt.
Ba mươi năm vẫn đau xa vắng
Em tôi, liệt sĩ Nguyễn Hoài Châu – hy sinh ngày 22.7.1972. Gia đình nhận được giấy báo tử em vào một ngày cuối năm 1974. Tôi còn nhớ như in ngày ấy - ngày 25.12.1974, ngày mà Tổ chức, chính quyền ở địa phương làm lễ báo tử, truy điệu em tôi ngay tại gia đình. Một ngày đông giá rét mưa lạnh. Có lẽ đây là mùa đông lạnh giá nhất mà gia đình tôi đón nhận khi còn sống trên đất Bắc.
Vậy mà gần 30 năm sau, gia đình tôi mới có điều kiện tìm kiếm em tôi. Đó là thời điểm tháng 7.2000. Những thông tin mà gia đình ngày ấy nhận được từ đồng đội của em: ls Châu hy sinh do bom vùi, không lấy được xác trong một trận đánh ở khu vực Bảy núi – An Giang. Theo chỉ dẫn của một nhà ngoại cảm thì hài cốt em tôi đã được quy tập về nghĩa trang Liệt sĩ Cần Thơ là mộ vô danh thứ 3, hàng thứ 3, dãy sau cùng phía bên trái tính từ dưới lên.
Vào thành phố HCM, tôi đi Cần Thơ ngay. Đến BCH quân sự tỉnh, các anh ở phòng chính sách đón tiếp ân cần và tôi được trực tiếp phụ tra cứu hồ sơ liệt sỹ. Lật tìm những trang hồ sơ ố vàng, chắc đã không ít lần qua tay những người tìm kiếm như tôi hôm nay, tôi thất vọng: Không có tên em Châu. Các anh giới thiệu tôi qua phòng chính sách QK 9. Chiều tối, hết giờ làm việc nên tôi được bố trí nghỉ đêm ở trạm đón tiếp. Rất may là đồng chí cán bộ phòng chính sách QK9 vợ con còn ở dưới quê, ảnh ở lại đơn vị, lâu lâu mới về thăm nhà. Sau khi nghe tôi tâm sự, ảnh hứa tối nay sẽ dẫn tôi lên phòng cùng tra cứu hồ sơ. Bữa cơm lính tươm tất, có lẽ cơm khách. Đã mấy mươi năm rồi, tôi lại ăn một bữa cơm lính, ngủ nhà lính. Vẫn biết đời lính là gian khổ, nhưng những gì bây giờ người lính có được so với năm tháng chiến tranh chống Mỹ ác liệt của chiến trường QK 5 nói riêng, miền
Gần hai giờ tra cứu Danh sách ls các thời kỳ có tại Ban chính sách QK 9, tôi buồn đến não lòng vì không có tên Ls em tôi, cũng như một chút gì tung tích Tiểu đoàn 553. E 5. F 350 vào chiến trường tháng 2.1972, hay D6-KB mật danh đơn vị lúc em tôi hy sinh. Ghi trong giấy báo tử.
Mật danh ! ôi mật danh. Ba mươi năm sau cuộc chiến mà cái mật danh quái quỷ kia vẫn không được một cơ quan chức năng nào có một lời trách nhiệm giải thích, hướng dẫn. Mặc cho hàng vạn gia đình thân nhân liệt sỹ chúng tôi phải đau đáu xoay xở, tự tim kiếm, dò hỏi.
Vâng! Xin đừng vô cảm với những người đã ngã xuống cho Tổ Quốc, cho hạnh phúc no ấm chúng ta đang hưởng hôm nay. Hãy cảm chia nỗi đau mất mát, khắc khoải vất vả, gian khó chặng đường đi tìm nắm xương cốt nhục Ls của gia đình chúng tôi đã và đang trải . Mọi sự lý giải : ….chúng tôi là thế hệ sau nên chịu…chỉ là ngụy biện, là vô trách nhiệm
“ Ngày con lên đường phiếu xanh, bìa đỏ
Mái phố nghèo ấm áp tiễn con đi
Giấy gọi con vào trường đại học Y
Mẹ xếp phẳng đợi con về đi học.
Bốn năm sau nhận tin con mất,
Nơi chiến trường xa lắc, xa lơ
Mẹ điên dại sống quanh quẩn bàn thờ.
Lúc nhắm mắt ôm con về với đất.
Tờ lịch thời gian quên ngày chiến trận
Mẹ mất rồi ai nhớ giỗ con đây ?
Mười tám, đôi mươi lấp lánh ánh sao
Cánh rừng xanh bạc phai màu ký ức…”
Mưa lạnh, lạ nhà và muỗi như sáo, thật khó ngủ, tôi chỉ mong trời mau sáng. Cùng ở lại trạm đêm ấy có hai chú cháu gia đình Ls từ Thái Bình vào. Cháu khoảng 20 tuổi, đi tìm mộ bố hi sinh trong chiến tranh biên giới Tây nam. Cháu tâm sự chỉ nhìn thấy bố trong ảnh và cũng rất nhiều lần còn được gặp trong mơ nữa. Trước khi xây dựng gia đình muốn đi tìm bố. Chặng đường hai chú cháu đi là từ quê vào thẳng An Giang, nhưng chưa tìm được, giờ quay lại Cần Thơ. Cùng hoàn cảnh đi tìm Ls nên chúng tôi dễ hòa nhập thân quen. Qua lời họ kể tôi đã có thêm rất nhiều thông tin quý cho cuộc hành trình sắp tới. Sáng hôm sau, theo chỉ dẫn của nhà ngoại cảm, tôi đến Nghĩa trang - Đài tưởng niệm Ls ở Thành phố Cần Thơ. Khi đến đúng ngôi mộ trên thì cái nào cũng giống cái nào. Vuông thành, sắc cạnh, một ngôi sao đỏ trên bia mộ và dòng chữ nhói đau : Liệt sĩ vô danh. Sắp đến ngày TBLS 27-7 nên các mộ đều được sửa sang, nhổ cỏ, quét vôi mới… Chưa đủ thông tin chắc chắn nên tôi không dám nhận ngôi mộ ấy mà chỉ thắp nhang chung trên đài tưởng niệm và dành phút lâu mặc niệm bên ngôi mộ ấy. Em - hay đồng đội nào nằm dưới đó chắc cũng thông cảm cho nỗi niềm khó xử của tôi.
Theo gợi ý của hai chú cháu tại trạm đón tiếp QK9 và đồng chí cán bộ ở phòng chính sách, tôi quyết định đi Châu Đốc, nghĩa trang dốc Bà Đắc…một vệt dài quanh vùng căn cứ bảy núi An Giang. Nơi mà lúc đó trong thâm tâm, tôi nghĩ: em Châu đã từng sống, chiến đấu ..và nằm lại đâu đó nơi ấy. Sau khi đã được gia đình Ls ở trạm đêm trước chỉ dẫn cặn kẽ hướng đi, giá cả, tôi chia tay Cần Thơ, bắt xe đò đi Châu Đốc, …Khoảng 10h đã có mặt ở Châu Đốc, tôi tranh thủ hỏi đường vào phòng chính sách địa phương. Dù đã sắp hết giờ làm việc nhưng các đồng chí ở phòng đã nhiệt tình giúp tôi tiếp cận hồ sơ lưu trữ tra tìm tên Ls. Cũng không nhiều nhặn gì, chỉ vài cuốn hồ sơ. Đã có kinh nghiệm lần tra cứu tại tỉnh đội Cần Thơ, tôi lật đi lật lại những trang liệt sĩ có tên Châu… Trời sắp giông, không khí ngột ngạt oi nồng, mồ hôi thấm xuống mắt cay xè ..và một lần nữa tôi không khỏi thất vọng vì không có một thông tin nào liên quan đến em tôi. Cảm ơn các anh ở phòng chính sách Châu Đốc, tôi bắt xe thồ thẳng hướng nghĩa trang dốc Bà Đắc -Tri Tôn vì theo tôi được biết ở đó có nhiều bia Ls quê Hải phòng.
Vâng chúng tôi là những học sinh miền
Tôi bắt xe thồ nhằm hướng Tri Tôn khi trời chiều vần vũ kéo mây và cơn giông đang tới. Trú mưa tại một quán lá ven đường. Trò chuyện với anh xe thồ, tôi được biết: xa xa kia là núi Bà Đen sừng sững in đậm giữa vùng đồng nước mênh mông. Cũng theo lời anh xe thồ: những năm ác liệt bộ đội miền Bắc hy sinh quanh khu vực núi Bà nhiều lắm.
Mưa ào tới rồi cũng mau tạnh. Trời lại trong veo, nắng không còn gay gắt nữa. Chúng tôi hối hả lên đường như mong bù lại khoảng thời gian đã mất. Đến cơ quan chính sách huyện Tri Tôn, các anh chị đang họp nhưng khi nghe tôi trình bày xin gặp các anh chị đã tận tình hướng dẫn. Tra danh sách hầu như chẳng có gì vì theo các anh chị : Danh sách các Ls đã được quy tập thì ở Ban quản lý nghĩa trang đầy đủ hơn cả vì hầu như tháng nào cũng có anh em mình được quy tập về do bà con mình làm rẫy, trẻ chận trâu bò trên núi …phát hiện báo cho đội quy tập. Cán bộ dân chính đảng, bộ đội địa phương…hy sinh những năm trước 75 ở một khu do anh Minh, người Tịnh Biên – An Giang phụ trách; Một khu khác gần đó hầu hết là anh em miền Bắc hy sinh sau 75, nhiều nhất là Ls của cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam năm 1979. Tôi quyết định tìm đến khu do anh Minh phụ trách, hồi ngoài Bắc có thông tin em tôi khi hành quân vào chiến trường sốt rét nằm lại đường dây, sau bổ sung vào bộ đội địa phương.
Bảy núi âm u khi trời đã về chiều và nghĩa trang càng tĩnh lặng. Gọi là anh vì từng là người lính với nhau chứ thực ra tôi phải xưng cháu và gọi anh bằng chú mới phải. Đón tôi trong căn nhà chòi đơn sơ anh Minh cho biết : Nghĩa trang mới có kinh phí sữa chữa xây mới, nhà cửa vôi vữa bề bộn lắm. Ít bữa nữa xong anh em có nơi chốn khang trang, gia đình lên thăm viếng có chỗ đón tiếp chu đáo. Cầm tấm ảnh em Châu, tôi đưa, anh nghẹn ngào lặng đi: Tội chú em hy sinh trẻ quá…
Ngày ấy chúng tôi ra trận đều vừa mười tám, đôi mươi. Tuổi mơ ước, hứa hẹn, ấp ủ…. Em tôi đậu cơ điện Bách khoa Hà Nội năm ấy, nhưng giấy báo nhập ngũ đến trước. Ước mơ, hoài bão ai mà chẳng có, xong đành xếp lại. Có một câu thơ nhà thơ Tố Hữu đã viết những năm tháng ấy: “Mỹ hại trăm nhà lo diệt trước. Rắn mình em chịu có sao đâu”. Theo lời hiệu triệu của Bác Hồ: Tất cả để chiến thắng giặc Mỹ xâm lược. Con em Miền
Tra tìm tới lui không có tên Ls. Anh Minh nói : Ơ đây phần lớn là cán bộ, bộ đội địa phương hy sinh thời chống Mỹ… Do vậy, họ biết rõ quê quán, hoàn cảnh, địa điểm chôn cất … Khi quy tập, bia mộ dễ dàng thuận tiện hơn. Chắc chú em không về bộ đội Miền, có khả năng nó nằm bển - khu chủ lực miền Bắc vào. Em qua đó coi, may phước có.
Chia tay anh Minh, tôi qua tới nghĩa trang dốc Bà Đắc trời vừa sập tối. Bầy gà táo tác về chuồng. Vùng này hồi ấy chưa có điện, mấy anh quản trang đang lo đóng cửa, thắp nhang trên nhà tưởng niệm. Tôi theo vào, một nén nhang cho anh em đồng đội; thương nhớ em tôi. Kệ sau trang thờ vẫn còn ba bộ cốt Ls bọc trong tấm nhựa. Các anh cho biết : Cốt anh em mình mới tìm thấy, chưa kịp làm lễ hạ huyệt nên còn để tạm đây. Bật hộp quẹt xem kỹ bọc hài cốt, tôi không thấy có ghi tên tuổi, ký hiệu gì… Mai này nghĩa trang thêm hàng mộ mới với dòng chữ nhói lòng mà ta thường thấy: Liệt sĩ chưa biết tên.
Mâm cơm chiều đạm bạc, có ngọn đậu, lang luộc chấm nước mắm, canh bí đỏ nấu đậu phộng, con cá tràu trui lửa..và thêm can 5 lít đế. Các anh nói tôi cùng ngồi ăn. Tứ hải huynh đệ! Vả lại ở đây biết chạy đâu? Chén rượu xoay tua. Lần đầu tiên tôi mới thấy cách uống một nữa, nhổ một nữa rượu như mấy anh đây. Lạ mà không dám hỏi. Sau này mới biết ở đây quen uống vậy. Mới hai ba tua quanh chiếu đã ướt mèm. Kiểu này chắc tốn rượu lắm đây, được cái rượu lạt! Qua trò chuyện, các anh cho biết : Nghĩa trang này mới xây dựng, chủ yếu quy tập số anh em mình hy sinh trong chiến tranh biên giới Tây
Nằm đây hầu như đủ mặt các tỉnh thành phía Bắc như… Hải phòng, Nghệ tĩnh,
Buồn nghẹn lòng. Châu ơi ! em ở đâu ? Có linh thiêng cho gia đình biết nơi em nằm. Chân trời góc biển nào, khó mấy cũng gắng đưa em về. Má ngày càng già yếu, đưa được em về má mới yên lòng nhắm mắt. Nỗi đau này mới có thể nguôi ngoai. Giờ còn sức tìm kiếm, mai kia già yếu, lấy ai đưa em về đây ??? Năm tháng vật đổi, con người, sự kiện, hình hài …dần trong quên lãng. Mấy ai có còn nhớ ! Biết hỏi ai đây ??? Đêm ngàn sao. Râm ran côn trùng giữa rừng già thăm thẳm mông lung. Tôi nằm đây, với các anh như giữa bãi khách binh trạm Trường Sơn năm nào, đu đưa cánh võng bài ca ra trận. Thắp nén nhang cầu cho các anh vĩnh hằng cùng non nước. Dù sao cũng là may mắn. Bao anh em đồng đội mình máu xương giờ thành tro bụi, hóa thân vào đất nước, non sông.
Anh Tư quản trang, nhà gần đây cho biết: Ở vùng này có một lính Hải Phòng thời đánh Mỹ, hết chiến tranh ở lại trong này lấy vợ Miên. Nếu cần mai sớm tôi đưa anh đi.
Sáng sớm, anh Tư lấy xe chở tôi đi. Vùng ven biên giới, vắng lặng. Thỉnh thoảng có Honđa chạy qua. Con lộ đá với lằn xe máy nhẵn thín chạy dọc hai mép đường. Ruộng xấu, xăm xắp nước do mưa. Thấp thoáng một lọại cây mới thấy lần đầu nhưng tôi đoán ra ngay là cây Thốt nốt. Bảy núi sừng sững cặp theo phía Tây lộ. Có đi mới thấy sự hùng vĩ, to lớn của nó, nối với Tây Trưòng Sơn kéo gần hết An Giang. Quanh đó biết bao nhiêu cái “ Nghĩa trang mặt trận ” đúng nghĩa hồi ấy.
Gặp toàn người quen của anh Tư ở phòng chính sách, công việc tìm kiếm mau qua. Lại không có tin tức gì. Anh Tư dẫn tôi ghé nghĩa trang liệt sỹ huyện Tịch Biên. Nghĩa trang hoàn toàn vắng lặng trong nắng sớm bình yên, vài con bò thảnh thơi gặm cỏ. Gần bốn trăm Ls được chôn cất nơi đây mà chưa đến ba mươi bia Liệt sỹ có tên. Trong số ấy có một mộ mà theo lời anh Tư là Ls miền Bắc. Trên bia chỉ ghi: Ls Lương Tuấn Ngọc. Tân Yên – Hà Bắc. Một mộ khác chỉ ghi : Ls Châu, xã Lương phi – Tri Tôn….
Thắp bó nhang trên đài tưởng niệm. Không nén kìm được nỗi đau, tôi òa khóc thảm thiết. Ls địa phương sao lại không có họ? Có phải em nằm đó không Châu ơi? ? ?
Châu ơi ! Em ở đâu ? Anh biết đi đâu ? Phải đến đâu nữa để tìm được em ? ?? Ai ? Ai ? Trả lời tôi ; Ai có thể giúp tôi ? ?…. Gặp gió, bó nhang bùng cháy thành lửa ngọn. Vâng, chỉ có các anh – Hương hồn những người đồng đội cảm thông được nỗi niềm đau xót này ! Anh Tư đưa tôi đến nhà người lính Hải Phòng. Nếu không giới thiệu trước, tin chắc tôi sẽ lầm tưởng ổng là người Khơme. Gầy đen, đầu quấn khăn rằn, không một chút gì chất giọng Hải Phòng mà tôi rất quen thuộc. Nhà tình nghĩa nhưng ngoài mái ngói và mấy cái cột ra thì không phên vách, không tủ bàn, giường không chiếu.…Thế mới thấm thía câu trong một tác phẩm văn được học hồi phổ thông : Nghèo vào nhà khó như gió vào nhà trống…
Qua câu chuyện biết anh vào An Giang từ những năm 70, thuộc lữ 101…Sốt rét, thất lạc đơn vị ….rồi giải phóng, ở lại trong này luôn. Anh ấy không biết thông tin nào về Tiểu đoàn 553 Hải Phòng vào chiến trường năm 1972 cả. Trưa đó tôi nghỉ lại nhà anh Tư. Căn nhà xây cấp bốn, mái tôn, nền láng cimen. Cũng chưa dư dả gì vì anh chị có đến năm đứa con, xong cũng nuôi được heo, gà, có vườn, rẫy và nhất là năm đứa đều đang đi học. Rau cháo đấy nhưng ấm cúng, nghĩa tình. Gắng nuôi tụi nó ăn học, mai sau may nhờ. Chiều, anh chở tôi ra lộ đón xe về Sài Gòn. Chia tay bịn rịn . Giúi mãi vào tay anh mới chịu nhận mấy chục ngàn đổ xăng. Ghi nhận tấm lòng anh thương binh nghèo miền Tây biên giới. Biết khi nào gặp lại ? Trời lại giăng mưa, Qua những vùng đất chỉ nghe tên giờ mới gặp; những Cái Dầu, Thủ dầu Một, Nhà Bàng…Mùa mưa, nước lên mấp mé lộ. Nhiều nghĩa trang ven đường ngập trong nước, thấp thoáng đài tưởng niệm trăng trắng nhô khỏi mặt nước. Anh em mình chết rồi mà vẫn cực. Biết làm sao được ? .
Nơi em nằm, mặt trận phía
Ở đâu hỡi đất trời mênh mang quá
Anh đi tìm em, mưa nguồn nước nổi
Thốt nốt . Ô môn. Châu Đốc, Cái Dầu.
Trắng nghĩa trang, im lìm một màu
Lớp lớp hàng dọc ngang đội ngũ
Chỉ ngôi sao sáng trên đầu mộ.
Và nén nhang đỏ mắt quê nhà
Dựa Bảy núi những ngày ở cứ.
Đêm vượt đường nổ súng phía đông,
Lương Phi – Tri Tôn những ngày đỏ lửa.
Năm tháng xưa, bom đạn dội mưa.
Ba mươi năm, vẫn đau xa vắng
Sống cùng nhau - Chết cũng bên nhau
Em nằm lại kề bên đồng đội.
Những Anh hùng - Liệt sỹ không tên.
Trang hồ sơ nhuốm bụi chiến tranh
Tình cờ đọc bài: Tìm mộ Liệt sĩ qua thư như thế nào ? Của Ông Đoàn Văn Líu trên báo Thanh niên nhân ngày TBLS 27.7.2002 có ghi…. Ví dụ : “ D8 – KN thì tôi hiểu là Tiểu đoàn 8 – Quân khu 5 tại thành phố Đà Nẵng; Hay D3 – KB, thì tôi hiểu đấy là Tiểu đoàn 3. Quân khu 7. Phòng chính sách QK 7 tại Quận Phú Nhuận, TP HCM ”. Mừng hơn bắt được vàng , cứ theo như gợi ý trong thư của Ông Líu (đã có kiểm chứng ) thì mật danh “ D6 – KB ” ghi trong giấy báo tử Ls em tôi có thể là Tiểu đoàn 6 - QK 7.
Cảm ơn ông Đoàn văn Líu – Năm ấy đã ngoài 70 tuổi, giúp cho gần 700 gia đình tìm được mộ người thân bằng cách lặng lẽ ghi lại các thông tin về mộ trên báo đài rồi gửi thư đến các gia đình. Thời điểm đó, Ông đã viết tới hơn 56 000 bức thư như thế với một tấm lòng vô tư tuyệt đối. Năm nay, nếu còn sống, ( trong thâm tâm tôi thầm mong như vậy ) ông đã xấp xỉ tuổi 80. Cầu xin các Anh hùng Liệt sĩ hãy phù hộ cho ông mắt sáng tinh anh, đầu óc minh mẫn, tay bút không run…để ngàn vạn gia đình liệt sĩ trên mảnh đất này vẫn nhận được những lá thư chỉ dẫn của ông, giúp cuộc vạn lý tìm mộ Ls chúng tôi bớt gian truân, nhọc nhằn, vất vả. Ngày gặp thêm gần lại . Một cuộc sống đáng sống. Một tấm lòng đáng kính phục. Xin hãy nhận từ tôi, từ gia đình tôi. Không từ chúng tôi lời Tri ân vì những gì Ông đã góp nhặt cho đời.
Khẩn trương thu xếp. Một ngày tháng 5. 2002 tôi vào Tp – HCM đến Bộ tư lệnh quân khu 7. Sau khi kiểm tra mọi giấy tờ, vệ binh nói tôi chờ ở phòng đón tiếp ngoài vọng gác. Khoảng 20 phút sau vệ binh đưa tôi ống nghe nói chuyện với người của Phòng chính sách QK. Giọng nữ ở đầu dây bên kia hỏi: Anh cần tìm trường hợp Ls nào? Ai chỉ anh tìm đến đây ?
Tôi trả lời : Tôi biết mật danh KB là QK 7 qua một bài trên báo Thanh niên mới đây . Em tôi là Ls Nguyễn hoài Châu, hy sinh 22.7.1972; Đơn vị khi hy sinh trên giấy báo tử ghi D6 – KB nên tôi tìm đến đây.
Tôi nghe tiếp: Ai nói với anh như vậy? Có phải Ông….không ? D6 – KB thuộc sư 1. Chủ lực Bộ, hoạt động ở miền Tây những năm đánh Mỹ, chứ không phải QK7 . Năm 79 sư 1 hành quân ra Bắc, do có nhiều liệt sĩ mai táng ở trong này nên bàn giao hồ sơ lại cho QK 7. Theo giấy tờ lưu. Ls em anh hy sinh ở Kiên Lương – Kiên Giang; Trong này ghi : Bị bom vào căn cứ không lấy được thi hài…
Tai tôi ù đi không còn nghe rõ. Một luồng điện lạnh toát chạy dọc theo sống lưng. Phải tựa vào bàn cho khỏi khụy xuống, trước mắt như hiện lên hàng chữ xiên xiên viết bắng bút Bic ngày ấy, trang hồ sơ nhuốm bụi chiến tranh, ố vàng thời gian…
Ba mươi năm vất vả tìm kiếm. Hôm nay gia đình đã có được thông tin dù muộn màng nhưng vô vàn quý giá, đáng tin cậy về: Đơn vị; Trường hợp; Và giờ nơi em hy sinh… Gần đúng như những gì mà gia đình thu lượm được bấy lâu nhưng còn bán tín, bán nghi.
Trở lại với đồng đội? Một cuộc làm việc? Nửa giờ giao dịch ?….Là cái gì đó tôi không định nghĩa được! Không giáp mặt; Không bắt tay; Không hớp nước…
Từng là người lính. Ngày ấy chúng tôi, với nhau đâu có tệ như vậy. Thậm chí dám xả thân che đạn để đồng đội sống! Ngày ấy – Bây giờ. Tình đồng đội ? Cách đối xử với gia đình đồng đội, với gia đình Ls? Là vậy sao?
Câu hỏi ấy cứ xoáy mãi trong tôi. Chặng đường về như dài thêm.
Nguyễn Hoài Sơn (Nha Trang 0914.047.385) Nguyễn Hoài Sơn
|