khuyến mãi lazada

Di ảnh liệt sĩ

Liệt sĩ: Nguyễn Xuân Đoát(Bí danh: Không)
Ngày sinh: Tháng 3 - 1958
Quê quán: Giao Tân - Xuân Thuỷ - Nam Định ...
Đơn vị: Đại đội 10 - Tiểu đoàn 6 - Trung đoàn 20 - Sư đoàn 4 - Quân khu 9
Hy sinh: Chiến trường Tây Nam

Tìm kiếm

Đăng nhập

Hỗ trợ thông tin về tìm kiếm các liệt sĩ thuộc sư đoàn 2 (Quân khu 5)

(7/4/2009 11:40:05 AM) Nhận thấy thực tế các gia đình LS không có kiến thức về mảng quân sự, không hiểu được về tình hình chiến trường và không biết làm cách nào để có được thông tin về LS dù có tâm nguyện và dốc

Thưa các anh, chị!

 

Nhận thấy thực tế các gia đình LS không có kiến thức về mảng quân sự, không hiểu được về tình hình chiến trường và không biết làm cách nào để có được thông tin về LS dù có tâm nguyện và dốc sức tìm kiếm. Để hỗ trợ các gia đình Liệt sỹ, tôi xin cung cấp một số thông tin tổng hợp sau:

 

1.              Về sư đoàn 2:

-                 Lễ thành lập sư đoàn diễn ra ngày 20/10/1965, tại làng An Lâm, xã Phước Hà, Tiên Phước, Quảng Nam

-                 Phụ trách chiến trường phía bắc Quảng Ngãi ra Quảng Nam; sau năm 1970 tham gia chiến dịch đường 9 – Nam Lào ; năm 1972 tham gia Đắc Tô – Tân Cảnh và KomTum; sau đó lại về Quảng Nam, Quảng Ngãi.

-                 Để tỏ lòng tôn kính và tự hào về người sư đoàn trưởng của mình, cán bộ chiến sỹ sư đoàn 2 thường gọi là sư đoàn Nguyễn Chơn ( Tướng Nguyễn Chơn – Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam – Trưởng thành từ người lính đến cấp bậc sư đoàn trưởng sư đoàn 2).

 

2.              Về các trung đoàn thuộc sư đoàn 2:

a.             Trung đoàn 1 – trung đoàn Ba Gia:

-                 là đơn vị mang truyền thống của E108 trong kháng chiến chống Pháp, được thành lập tháng 11/1962 và kiêm nhiệm thêm nhiệm vụ tỉnh đội Quảng Nam. Đến cuối năm 1963 mới tách khỏi nhiệm vụ này. Sau chiến thắng Ba Gia được vinh dự mang tên Trung đoàn Ba Gia.

-                 Biên chế E1 có D40, D60, D90, D trợ chiến 400 và các C trực thuộc (sau đổi thành D1, D2, D3)

 

b.             Trung đoàn 21: gồm D22, D33, D44

-                 Trung đoàn 21: thành lập tháng 4/1965 tại tỉnh Hà Bắc, phần lớn cán bộ chiến sỹ là người Hải Hưng và Hà Bắc; Phan Viên là E trưởng, Nguyễn Ngọc Tiến là Chính uỷ

-                 Tháng 7/1965, E21 hành quân vào chiến trường, đứng chân trong đội hình sư đoàn 2 (F2) QK V. Đến tháng 6/1971, về đứng chân trong đội hình F3 Sao Vàng. Đến tháng Cuối tháng 6/1973, theo Nghị quyết Quân ủy Trung ương về củng cố tổ chức biên chế lực lượng vũ trang, Quân khu 5 giải thể sư đoàn 711, trung đoàn 21 (thuộc sư đoàn Sao vàng) và thành lập lữ đoàn 52.

 

c.             Trung đoàn 141: gồm D3, D4, D5

-                 mật danh “trung đoàn Ba Vì anh dũng” gốc là E141 F312 hành quân vào chiến trường tham gia chiến đấu tại mặt trận 4 – mặt trận Quảng Đà; đến tháng 7/1970 về F2 và tháng 06/1973 đứng chân trong đội hình  F3 cho đến nay.

 

d.             Trung đoàn 31: gồm D7, D8, D9

-                 nguyên gốc là E64 F320, mà F320 là sư đoàn đồng bằng chuyên lấy quân của QK 3 đi chiến trường đấy.

-                 khỏang tháng 10/1966, E31 được bổ sung cho F2 . Ông Phạm việt sơn là E trưởng, Phạm HỮu THận làm chính uỷ. Năm 1971, E31 được tăng cường cho mặt trận Tây Nguyên (B3) và tham gia chiến đấu trong chiến dịch Đắc Siêng. Năm 1972, về đứng chân trong đội hình sư đoàn 711, đánh địch ở Hiệp Đức, Bàn Thùng, Cấm Dơi, Quế Sơn. Đến tháng 06/1973, khi F711 giải tán thì lại về F2.

 

e.             Trung đoàn 52:

-                 nguyên gốc là E52 F320 vào chiến trường Tây Nguyên tháng 01/1972, tham gia chiến dịch Kleng, Kom Tum. Cuối năm 1972 chính thức về sư đoàn 2. Đến tháng 06/1973, E52 và D12 pháo binh F2 tách ra khỏi đội hình F2,  ở lại nam Quảng Ngãi để hình thành nên lữ đoàn 52.

 

f.               Trung đoàn 36:

-                 khoảng giữa năm 1974, E36 được tăng cường cho F2 tham gia chiến dịch Thu 1974 giải phóng Nông Sơn – Tiên Phước. Đến tháng 10/1974 mới chính thức về F2 theo quyết định của QK V.

-                 nguyên gốc là E36 F308, được tăng cường cho QK V trong chiến dịch Mậu Thân 1968. Cuối năm 1969 tạm giải thể và được tổ chức lại vào đầu năm 1974.

 

g.             Trung đoàn 38:

-                 nguyên gốc là E90 F324 QK V tập kết ra Bắc sau Hiệp định Giơ ne vơ. Năm 1961, khi các CB, CS Miền Nam đã quay trở lại chiến trường thì rút gọn lại thành một D trong đội hình lữ đoàn 324.

-                 Năm 1966, làm nhiệm vụ quốc tế giải phóng Mường Khao ở Xavanakhets (lào). Tháng 6/1966, chuyển về mặt trận đường 9 và đánh thắng quân Mỹ ở Gio An – tặng thưởng danh hiệu “dũng sỹ Gio An”. Trong Mậu Thân 1968, chốt giữ thành phố Huế. Năm 1972, đứng chân trong đội hình F711 cùng E31 , đánh địch ở Hiệp Đức, Bàn Thùng, Cấm Dơi, Quế Sơn. Đến tháng 06/1973, khi F711 giải tán thì lại về F2

 

h.             Trung đoàn pháo binh 368:

-                 thành lập 22/12/1974 trên cơ sở tập hợp các D pháo binh, cao xạ, súng máy phòng không của F2 và được QK V tăng cường

 

k.             D70 bộ binh:

-                 là tiểu đoàn bộ binh tập trung của tỉnh đội Quảng Nam, phần lớn là cán bộ,chiến sỹ QK V tập kết ra Bắc sau Bắc sau Hiệp định Giơ ne vơ đã quay trở lại chiến trường.

-                 Lúc đầu F2 thành lập chỉ có E1, E21 và D70. Sau khi E31 về F2 thì D70 được trả về tỉnh đội Quảng Nam

 

3.              Các D trực thuộc:

a.             D đặc công:

-                 khoảng tháng 6/1967, tiểu đoàn đặc công F2 được thành lập, mang phiên hiệu  D10

 

b.             D súng máy phòng không: tiểu đoàn 14 (D14) – một bộ phận hình thành nên E 368 pháo binh F2.

 

c.             D pháo cao xạ 37mm:

-                 được bổ sung từ tháng 06/1973, mang phiên hiệu D13. Nguyên gốc là D28 pháo cao xạ thuộc Bộ Tư lệnh 559 (Bộ Tư lệnh đường Trường Sơn).

-                 một bộ phận hình thành nên E 368 pháo binh F2.

 

d.             D pháo 85mm:

-                 được QK V bổ sung tháng 01/1974

-                 một bộ phận hình thành nên E 368 pháo binh F2

 

4.              Liên hệ các nơi

-                 hiện nay nếu đi theo QL19 từ phía Qui nhơn lên Pleiku - bên bên tay phải, thị xã An khê (cách đèo An khê 20km đó), vào sâu 2-3km mới đến sư bộ Sư đoàn 2 đóng tại sân bay An khê, là căn cứ cũ của sư đoàn 25 tia chớp nhiệt đới Mỹ. Liên hệ trực tiếp: Ban chính sách F2: 069 736148 - 069.736100

 

Quang

tình nguyện viên chuyên trả lời các gia đình LS thuộc mặt trận B1.

Nghiemvanquang2003@yahoo.com – 0913 203 467

(xin liên hệ qua e-mail để có thông tin chi tiết

và được trợ giúp kết nối đến Ban liên lạc CCB sư đoàn 2

 – không gọi điện thoại nếu không thật sự cần thiết).

 

Nghiêm Văn Quang



Đinh Đắc Đoan | dinhdacdoan@gmail.com (23:22:32 21-12-2015)

Bác Dương Sinh Mậu ơi!Có phải bác cùng đơn vị chú của cháu là Đinh Văn Đăng(Quê LẠng Giang-HÀ Bắc) đại úy tiểu đoàn trưởng hy sinh 30-4-1971 không? Mong tin bác nhiều .dinhdacdoan@gmail.com
Lê Thị Kim Oanh | le.thikimoanh.357@facebook.com (22:46:02 30-06-2015)

Bác của cháu cũng thuộc sư đoàn Nguyễn Chơn hi sinh năm 1971 tại Cống Vôi - Tiên Phước - Quảng Nam. hiện giờ những người biết thông tin cụ thể về bác đã không còn nữa. còn mỗi Bố của Cháu thì lại do Vết thương gây ảnh hưởng nên giờ đã bị liệt và không thể nói được. Chỉ còn 1 số thông tin sau: Ls: LÊ SĨ BÚT. Quê quán: Công Bình - Nông Cống - Thanh Hóa. Đơn vị: thuộc sư đoàn 2( Nguyễn Chơn).Cấp bậc: Trung Sĩ. Hi sinh ngày: 23/6/1971. lúc nhỏ nghe bố cháu nói là do bác bị pháo cối bắn trúng. Có biết phần mộ Bác cháu ở đâu xin báo về địa chỉ: Lê Thị Kim Oanh, Bệnh Viện Đa Khoa Đồng Phú, Bình Phước. SĐT: 0977815499 hoặc 0218524016. Cháu và gđ xin chân thành cảm ơn rất nhiều ạ !
ho huy | huy0993@gmail.com (14:36:48 13-05-2015)

Các bác cho cháu hỏi cháu muốn tìm hiểu năm 1968 e31 hoat động ở vùng nào ở quảng nam thì làm sao ạ?
Nguyễn Ngọc Sơn | ngocson102629@gmail.com (14:36:43 14-10-2014)

Các bác cho cháu hỏi trung đoàn 31 sư đoàn 2 hiện đóng quân ở đâu? cháu muốn lên đơn vị cũ của chú cháu để xin xác nhận bị thương. Các bác giúp cháu với!
Dương Sinh Mậu | sinhmauduong@yahoo.com (11:52:43 20-05-2012)

Tôi vào QN tháng 7/ 1967 và được bổ xung vào tiểu đội trinh sát thuộc D4, E2, F2, QK5 , khi đó mật danh đơn vị là Đồng Hải .Tiểu đoàn trưởng tên Lượng , người Hà Tây, Chính trị viên tên Đăng người Hà Bắc . tháng 7/1969 ra bắc vì trước đó tôi bị thương tháng 5/ 1969 tại đồi 62 Quảng ngãi . Đơn vị cấp giấy Huy chương CSGP có ghi là E2, dấu đỏ ghi Đơn vị 451 , Thủ trưởng đơn vị ký tên Mai Đức Triêm . Theo thông tin về Phiên hiệu đơn vị nêu trên về sư đoàn 2 , không thấy có D4, E2 của tôi . Có ai biết thêm thông tin xin chỉ giúp , chân thành cản ơn .
Nguyễn danh uy | nguyenduyngonhi@yahoo.com.vn (20:38:08 28-01-2012)

Từ tháng 7/1970 Trung đoàn 141 được bổ sung vào đội hình F2 để tham gia chiến dịch đường 9 -Nam Lào và đến năm 1972 tham gia mặt trận Bắc Tây Nguyên. Trung đoàn 141 có ba tiểu đoàn là các D4,D5 và D6 chứ không phải D3,D4, D5 như trong bài viết.Tôi là lính của C 12 D6 mà. Còn D3 thuộc Trung đoàn Ba Gia (E 1)
Huỳnh Đức Hải | huynhduc08@gmail.com (17:37:47 21-03-2011)

Tôi nhập ngủ tháng 8-1984 huấn luyện bộ binh ở An Sơn - Nghĩa Bình (củ),sau đó chuyển lên C3-D17- F2 (thông tin hữu tuyến điện )nhiệm vụ tôi đảm bảo thông tin thông suốt giữa sư đoàn và các trung đoàn trực thuộc sư đoàn. Trong phần giới thiệu trên còn thiếu E93. Cho tôi hỏi thăm và chúc sức khoẻ Anh Nam đầu bac BCH D17,Anh Cương, Anh Chánh BCH C3 và một số anh em chiến hữu như Hiêú mập, Tân gù, Hùng vịt, Sơn còi và Anh Ba bị giẩm mìn đứt chân trong chiến dịch mùa khô 1985-1986 campuchia

Ý kiến của bạn





Nội dung:* (Bạn vui lòng gõ tiếng Việt có dấu)